Kính thưa quí vị quan tâm. Trong tiểu luận “Tính Minh triết trong tranh dân gian Việt Nam”, Thiên Sứ – dưới bút danh Nguyễn Vũ Tuấn Anh – đã giới thiệu đồ hình Âm Dương Việt và trình bày quan điểm về tính minh triết của đồ hình này so với đồ hình Âm Dương trong cổ thư chữ Hán.

Đồ hình Âm Dương Việt không chỉ được tác giả nhận diện trong tranh dân gian Việt như “Lưỡng nghi sinh tứ tượng” của tranh Hàng Trống hay “Đàn lợn” của tranh Đông Hồ, mà còn được dẫn ra trong một số di vật và đền cổ Việt Nam. Từ đó, bài viết đặt vấn đề về một hệ biểu tượng Âm Dương được lưu truyền trong văn hóa dân gian Việt.

“Trong văn hóa dân gian Việt đã lưu truyền một sự minh triết hoàn toàn riêng về thuyết Âm Dương Ngũ hành qua đồ hình Âm Dương của riêng nền văn minh này.”

— Nguyễn Vũ Tuấn Anh

Những dấu vết trong tranh dân gian Việt

Tác giả lần lượt giới thiệu một số hình tượng được cho là còn lưu giữ dấu vết của đồ hình Âm Dương Việt qua tranh dân gian và di tích cổ.

Bài viết tiếp tục giới thiệu hình Âm Dương mà chú bé trong tranh cầm trên tay, sau đó phóng to và phục chế để làm rõ cấu trúc của đồ hình.

Hình Thái Cực trong tranh dân gian Việt Nam
Hình Thái CựcTrong tranh dân gian Việt Nam
Hình Thái Cực phục chế từ tranh dân gian Việt Nam
Hình Thái Cực phục chếTừ tranh dân gian Việt Nam

“Lưỡng nghi sinh tứ tượng” và cách lý giải của tác giả

Bức tranh “Lưỡng nghi sinh tứ tượng” được xem như một hình ảnh diễn giải câu trong Hệ từ của Kinh Dịch: “Thị cố Dịch hữu Thái Cực, thị sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái.”

Theo bài viết, trải qua nhiều thời kỳ, các nhà Lý học Đông phương đã có những cách diễn giải khác nhau về Thái Cực, Lưỡng Nghi và Tứ Tượng. Tác giả cho rằng những cách diễn giải đó còn tồn tại điểm mơ hồ và mâu thuẫn, từ đó đưa ra cách đọc riêng dựa trên bố cục của bức tranh dân gian Việt Nam.

Ba hình tượng chính trong bức tranh

1
Đồ hình Thái Cực – Âm Dương – Bát QuáiĐược một chú bé cầm trên tay và được tác giả sử dụng để giải thích quan niệm “Thái Cực sinh Lưỡng Nghi”.
2
Hai chú bé với bốn thân hình gắn kếtĐược giải thích như biểu tượng của “Tứ Tượng” và trạng thái tương tác trong quá trình vận động của Âm Dương.
3
Hình con rùaĐược liên hệ với quan niệm của tác giả về dấu vết một nền văn minh có chữ viết của người Lạc Việt thời cổ.

Thái Cực, Lưỡng Nghi và câu “Mẹ tròn, con vuông”

Theo cách lý giải trong bài, đồ hình trong tranh dân gian Việt Nam được xem là biểu tượng của Thái Cực sinh Lưỡng Nghi. Tác giả liên hệ điều này với câu tục ngữ Việt Nam “Mẹ tròn, con vuông”: “mẹ tròn” – cái có trước – được xem như biểu tượng của Thái Cực; “con vuông” – cái có sau – được liên hệ với Âm và sự vận động.

Điểm tác giả nhấn mạnh: đồ hình được trình bày có hình thức gần với biểu tượng Thái Cực hiện đại, nhưng không đặt biểu tượng “Tứ Tượng” ngay bên trong đồ hình. “Tứ Tượng” được thể hiện bằng một hình tượng riêng trong bố cục tranh.

Biểu tượng “Tứ Tượng”

Bốn thân hình của hai chú bé kết thành hình vuông được tác giả lý giải như biểu tượng của Tứ Tượng, thuộc về trạng thái vận động và tương tác. Trong cách giải thích của bài viết, bốn trạng thái được liên hệ với tương sinh, tương khắc, tương thừa và tương vũ.

Tác giả cho rằng hình ảnh bốn thân hình gắn kết thể hiện sự vận động và tương tác liên tục, trong khi hình ảnh hai đứa bé vẫn tạo ra sự phân biệt, qua đó được dùng để diễn đạt quan hệ giữa Âm Dương và Tứ Tượng.

Hình tượng con rùa

Một chi tiết khác được bài viết đặc biệt chú ý là hình con rùa. Tác giả liên hệ hình tượng này với ghi chép cổ về “sứ Việt Thường dâng con rùa lớn, trên mai có văn Khoa Đẩu, ghi việc trời đất mở mang”, rồi từ đó đặt hình con rùa trong bức tranh vào mạch giải thích về tri thức cổ và nguồn gốc văn hóa Lạc Việt.

Trong lập luận của tác giả, hình ảnh chú bé “Tứ Tượng” đứng trên mai rùa được xem là một biểu tượng cho sự ghi nhận những tri thức về Thái Cực, Lưỡng Nghi và Tứ Tượng từ thời cổ.

Đối chiếu với “Tứ hỷ hợp cục”

Ở phần phụ bản, bài viết đối chiếu bố cục hai đứa bé trong tranh Việt Nam với tranh cát tường Trung Hoa “Tứ hỷ hợp cục”. Tác giả nhận thấy hai hình tượng có bố cục tương đồng nhưng mang nội dung diễn giải khác nhau.

Từ sự tương đồng này, tác giả đưa ra quan điểm rằng hai hình tượng có thể có chung một cội nguồn văn hóa; đồng thời cho rằng nội dung của bức “Lưỡng nghi sinh tứ tượng” trong tranh Việt Nam không trùng với cách diễn giải phổ biến trong các bản văn Hán Nho về Âm Dương Ngũ hành.

Bức tranh dân gian Hàng Trống “Lưỡng nghi sinh tứ tượng” là một hình thức cô đọng để diễn đạt cách hiểu về “Thái Cực sinh Lưỡng Nghi, Lưỡng Nghi sinh Tứ Tượng”.

— Nguyễn Vũ Tuấn Anh